Wikipedia

Kết quả tìm kiếm

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017


Mưu mô của Đảng CSVN khi bải bỏ Chứng Minh Thư và Hộ khẩu tại Việt Nam
  • Nguồn trích đăng: http://bacaytruc.com/index.php option=com_content&view=article&id=17496:mu-mo-ca-ng-csvn-khi-bi-b-chng-minh-th-va-h-khu-ti-vit-nam&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53
AuthorLisa PhạmSourceChannel VNCG TV - YoutubePosted on: 2017-11-06
Đoạn video nói về mưu mô hủy bỏ hộ khẩu bắt đầu từ phút 32:45. Muốn nghe toàn bộ, xin trở lại từ đầu.

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN (Truyện ngắn – TRÀM CÀ MAU)

ƠN ĐỜI CHỨA CHAN

(TRUYỆN NGẮN – TRÀM CÀ MAU)

Ơn Đời Chứa Chan (Truyện Ngắn – Tràm Cà Mau)
Nguồn: Thư Viện Hoa Sen (https://thuvienhoasen.org)

Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!
Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày Chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.
Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.
Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn”. Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già. Ông cứ nhớ mãi thời đi tù Cộng sản, mỗi ngày chỉ có được một lon nước chừng một lít, để rửa ráy tắm giặt. Chừng đó thôi, mà cũng xong việc. Khi ấy, thấm cái khăn ướt lau khắp người, nghe mát rượi, đã đời, và khi còn lại một phần nước cặn đen ngòm dưới đáy lon, cầm đổ lên đỉnh đầu, sướng đến rên lên được.
Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi “ám khí” khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp vía, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.
Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ:
Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng.
Ba nguồn thân thiết dạt dào thương“.
Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?
Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gỗ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ”.
Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.
Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm.
Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào.
Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ. Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.
Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:
“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!”
Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời”.
Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?”
Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì?”
Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho”.
Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.
Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên người ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…
Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan.
Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.
Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.
Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.
Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi”. Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.
Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.
Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi-tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy giá thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.
Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xóa tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.
Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.
Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng”, ông chỉ cười và nói: “Thà tự sướng hơn là tự khổ”.
Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau.

Tràm Cà Mau

*

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Hảy Trả Hết Lại tao "RỒI MÌNH HÒA GIẢI…!"

Lý T Châu shared Nguyen Xuan Thoai‘s post.
10 hrs · 
  • Rất lâu rồi hôm nay mới lại thấy một bài văn vần ĐÁNG GỌI LÀ THƠ
Image may contain: one or more people, people sitting, bicycle, motorcycle and outdoor
11 hrs · 
.

RỒI MÌNH HÒA GIẢI…

Mày trả lại tao những gì mày giải phóng
Rồi chúng mình sẽ nói chuyện anh em
Trả lại tao những năm tháng êm đềm
Tao đã hưởng trước ngày mày có mặt
Trả lại cái tên mày đã cướp mất
Nơi sinh ra tao, tên gọi Sài Gòn,
Cái tên tao thuộc lòng từ thuở bé con,
Không phải cái tên dài thòn khó đọc.
Mày trả tự do về cho dân tộc
Tự do thờ phượng tự do yêu thương
Mày trả giáo dân về với giáo đường
Trả phật tử về với chùa với tự
Trả quyền tự do bầu bán ứng cử
Để dân tao được kén chọn hiền tài
Trả lại tao quyền tự quyết tương lai
Quyền hạnh phúc tao cho con cho cháu
Trả trường học về cho thầy cô giáo
Trả em thơ về với tuổi hồn nhiên
Trả ánh mắt vui trả nụ cười hiền
Về với trẻ suốt ba miền đất nước
Trả ngây thơ về lại miền sơn cước
Trả bao dung trở lại với đồng bằng
Trả biển trả đầm về với ngư dân
Trả nông dân ruộng đồng mày cưỡng chế
Trả tam quyền về lại cho thể chế
Trả quan tòa quyền xét xử công minh
Trả luật sư quyền biện hộ chủ mình
Trả toà án quyền đứng riêng độc lập
Trả học sinh quyền tự do học tập
Không Mao Nhiều, Các Mác với Le Nin,
Không đảng quang vinh, vô sản, vô tình,
Trả chúng nó quyền tự do đọc sách.
Trả người cầm bút tự do viết lách
Trả mọi người quyền cất những lời ca
Trả nhạc vàng về các nẻo đường xa
Để mọi lúc mọi nhà cùng vui hát
Trả hết cho tao những gì tao đã mất
Còn tao sẽ trả mày một thứ đỉnh cao
Sẽ trả mày cái chủ nghĩa tào lao
Mày dùng nó đưa tao vào khổ ải
Trả hết cho nhau… rồi mình Hòa Giải.

Fb Thuc Tran

//
1A-a 30-4 Bên Thắng Cuộc

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

CHỐNG CỘNG HAY KHÔNG CHỐNG CỘNG ?

AuthorLs Lê Duy SanPosted on: 2017-10-17

Cô bé quàng khăn đỏ ngu ngốc và lão Sói
Gần đây, chúng ta thường nghe thấy một vài người nói: “Chống Cộng đã 42 năm rồi, chúng ta có làm được gì bọn Việt Cộng không mà cứ chống mãi? hay “Bọn Việt Cộng bây giờ, thằng nào cũng giầu nứt đố đổ vách, cũng nhà lầu xe hơi, không chủ khách sạn này thì cũng Giám Đốc công ty kia. Chúng đâu còn là Cộng Sản nữa mà chống? Có người còn hỏi một câu rất ư là … không biết phải dùng chữ gì cho đúng: “Gần xuống lỗ rồi…còn chống Cộng làm gì ?
 .
Không biết những người có ý nghĩ như trên là hạng người gì ? Người Việt tỵ nạn Cộng Sản hay tỵ nạn kinh tế? Người Việt Quốc Gia hay Việt Cộng nằm vùng ? Nhưng dù sao tôi cũng cám ơn họ đã gợi hứng cho tôi để viết bài này.
1/ Chống Cộng để làm gì ?
2/ Đã 42 năm rồi, chống Cộng có đem lại được kết quả gì không ?
.
I Chống Cộng để làm gì ?
 .
Chúng ta, những người Việt tỵ nạn Cộng Sản, dù là di tản hay vượt biên, dù là được bảo lãnh theo diện O.D.P hay đi theo chương trình H.O, không kể con em của chúng ta, ít nhất cũng ở cái tuổi “thất thập cổ lai hi”, nghĩa là ở cái tuổi “gần xuống lỗ” rồi. Vậy còn chống Cộng để làm gì?
 .
Chúng ta chống Cộng vì chúng ta coi việc chống Cộng là bổn phận của một người dân yêu nước. Chúng ta chống Cộng vì trái tim chứ không phải vì quyền lợi.
 .
Chúng ta chống Cộng không phải vì chúng ta muốn làm vương, làm tướng gì khi chế độ Cộng Sản xụp đổ. Chúng ta chống Cộng cũng không phải vì chúng ta muốn được hưởng đặc quyền, đặc lợi gì hay đòi lại được gì khi chế độ Cộng Sản xụp đổ. Khi chúng ta bỏ nước ra đi là chúng ta đã bỏ hết. Ngay cái nhà của chúng ta, do công lao có khi cả mấy đời mới có, chúng ta cũng bỏ. Muốn đòi cũng khó. Bọn Việt Cộng sau khi chiếm đoạt, chúng cấp cho nhau ở rồi bán lại cho người khác. Bán đi, bán lại cả chục lần, người mua sau cùng trở thành kẻ chiếm ngụ ngay tình và hợp pháp, làm sao chúng ta đòi lại được? Con cháu của chúng ta, chúng đã có quốc tịch của nước chúng định cư. Chúng đã thành tài và có công ăn việc làm tốt ở nước định cư, chúng đâu thích trở về Việt Nam dù có được chính quyền mới đãi ngộ.
 .
Chúng ta chống Cộng vì chúng ta không muốn người dân trong nước phải sống cực khổ và nhục nhã dưới sự cai trị vô cùng độc ác và dã man của bọn Việt Cộng. Chúng ta chống Cộng vì chúng ta muốn người dân trong nước phải nhận thức được thế nào là tự do, thế nào là dân chủ, thế nào là nhân quyền để từ đó mà vùng dậy đòi quyền sống cho chính mình, cho đồng bào cùng cảnh ngộ như mình và đòi quyền là chủ đất nước.
 .
Vì thế, nhiệm vụ lật đổ chế độ Cộng Sản là nhiệm vụ của người dân trong nước, nhưng chúng ta có bổn phận phải giúp đỡ họ, cổ võ họ và ủng hộ họ. Chúng ta là chỗ dựa của họ. Do đó chúng ta phải chống Cộng.
 .
II Đã 42 năm rồi, chống Cộng có đem lại được kết quả gì không ?
 .
Đã 42 năm rồi, chống Cộng có đem lại được kết quả gì không ? Lẽ dĩ nhiên phải có kết quả, nếu không chúng ta đã bỏ cuộc từ lâu.
 .
1/ Ở Hải Ngoại. Những cuộc biểu tình đả đảo Cộng Sản, những buổi hội thảo, hội luận hay viết bài tố cáo sự vi phạm nhân quyền hay tội ác của Cộng Sản đăng tải trên báo chí, truyền hình hay đưa lên các diễn đàn cũng như những buổi lễ tưởng niệm ngày 30/4, ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại v.v… không phải là để than khóc mà là để vạch trần tội ác của Việt Cộng, để đòi hỏi những quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tư tưởng v.v…cho những người dân trong nước đang phải chịu cảnh áp bức, cảnh lầm than đói khổ dưới chế độ Cộng Sản.
Chính vì sự chống Cộng này của chúng ta mà bọn Cộng Sản Việt Nam khi tới Mỹ, đi đến đâu cũng phải trốn lui, trốn lủi, phải luồn cửa hông, phải chui cửa hậu, phải nhờ cảnh sát Mỹ bảo vệ. Chính vì sự chống Cộng này của chúng ta mà cờ MÁU của bọn cộng sản Việt Nam, ngoi lên được cái nào là bị chúng ta giật bỏ cái đó. Trái lại, cờ VÀNG ba sọc đỏ của chúng ta thì không những luôn luôn được đồng bào chúng ta trang trọng giương cao và tung bay càng ngày càng nhiều trong các buổi sinh hoạt, hội hè. Ngay cả một số những người đã và đang sống dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam và cả những người đã từng là đảng viên cộng sản Việt Nam cũng đã thức tỉnh và mong muốn một ngày nào đó, ngọn Cờ Vàng ba Sọc Đỏ của chúng ta sẽ tung bay trở lại trên bầu trời Việt Nam. Chính vì vậy mà ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam phải đề ra Nghị Quyết 36 để chống lại.
 .
Anh Đặng Chí Hùng, một người trẻ, sinh ra và lớn lên dưới chế độ Cộng Sản, mặc dầu là con của một liệt sĩ (Việt Cộng), nhưng đã sớm thức tỉnh nhờ sự chống Cộng của chúng ta, anh đã dấn than vào con đường chống Cộng. Bị Việt Cộng lung bắt, năm 2015, anh đã vướt biên và tỵ nạn tại Canada. Anh nói: ”Càng nhìn những hình ảnh đau thương của dân tộc trong những ngày qua, không chỉ riêng tôi mà cả triệu người có lòng với dân tộc đều rướm lệ…Vâng ! Quê hương chúng ta đã quá khổ đau rồi. Còn chờ gì nữa ? Còn đi loanh quanh đâu nữa ? Chỉ có một con đường chúng ta đi đó là “Không khoan nhượng với cộng sản” thì mới mong thoát khỏi kiếp nạn CS này. Trước khi hỏi ông Trời, chúng ta nên hỏi chính chúng ta thì hơn…”
 .
2/ Ở Quốc Nội.
 .
Nhờ sự chống Cộng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản hải ngoại, cái “chính nghĩa” mà bọn Cộng Sản Việt Nam rêu rao do sự tuyên truyền và lừa bịp mà có được như “Đánh Pháp để giành độc lập” hay “Đánh Mỹ để giải phóng miền Nam” người dân trong nước cũng không còn tin nữa.
.
Ngày nay, không những chỉ dân miền Nam, mà cả dân miền Bắc cũng hiểu rằng năm 1945 Việt Nam đã được độc lập do Hoàng Đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng và Sử gia Trần Trong Kim làm Thủ Tướng. Chính bọn Việt Cộng, lúc bấy gọi còn gọi là Việt Minh, đã cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim rồi ký Hiệp Định Sơ Bộ ngày 6/3/1946 với Pháp, cho phép Pháp đổ bộ vào Bắc Việt để thay Trung Hoa tước khí giứi Nhật, để chúng rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia gây lên cuộc nội chiến Quốc Cộng, rồi phát động chiến tranh Việt Pháp vào ngày 19/12/1946 để giành chính nghĩa.
 .
Sau Hiệp định Geneve 1954, Việt Nam bị chia đôi, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới hai miền Bắc Nam. Người dân miền Nam đã và đang hưởng cuộc sống an bình, tự do và dân chủ do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo thì bọn Việt Cộng miền Bắc lại dựng lên Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vào năm 1960 dưới chiêu bài “Đánh Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam” để cưỡng chiếm miền Nam và áp đặt chủ nghĩa Cộng Sản lên toàn thể người dân trong cả nước.
 .
Chính nhờ sự chống Cộng của chúng ta mà người dân Việt Nam ngày nay đã thấy rõ bộ mặt thật của Việt Cộng chỉ là bọn bán nước hại dân. Người dân Việt Nam không những không còn tin theo bọn Việt Cộng mà còn công khai chống lại chúng. Họ đã dám kéo nhau đi biểu tình đòi nhà đòi đất. Họ đã dám tụt quần trước cơ quan của ngụy quyền Cộng Sản, chửi rủa và đả đảo bọn ngụy quyền tham nhũng khiến bọn Việt Cộng phải dùng xã hội đen để đàn áp. Chính nhờ sự chống Cộng của chúng ta, người dân trong nước đã dám vác cờ Vàng ba sọc đò đi biểu tình và đã dám gọi thẳng tên đảng Cộng Sản Việt Nam ra đả đảo. Chính nhờ sự chống Cộng của người Việt Hải Ngoại mà ngời dân trong nước đã dám bắt giữ gần 40 tên công an và viên chức chính quyền làm con tin trong vụ Đồng Tâm ở huyện Mỹ Đức Hà Nội vào ngày 15/4/2017.
Người dân oan khi được đài RFI phỏng vấn đã dám gọi đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng Cướp. Điều đó chứng tỏ rằng ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam không còn uy quyền gì đối với quần chúng.
 .
Ngay cả những người đã từng đi theo Việt Minh, Cộng Sản từ 1945, 1946 và có tới 4, 5 chục tuổi đảng cũng đã thức tỉnh và chống lại chế độ. Điển hình là cựu Trung Tá Quân Đội Cộng Sản Trần Anh Kim, nguyên bí thư đảng ủy tỉnh Thái Bình, trong một cuộc phỏng vấn của ông Hoàng Hà (Tiếng Nói Đa Nguyên) ông Trần Anh Kim đã nói “Không phải là Mỹ xâm lược Việt Nam mà là Trung Quốc xâm lược Việt Nam và gọi bọn lãnh đạo Việt Nam là môt “lũ hèn nhát”, là một “Tập Đoàn Lừa Đảo”. Ông công nhận trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã oanh liệt chiến đấu để bảo vệ Hoàng Sa là những người anh hùng của dân tộc.
.
Anh Đặng Xuân Khánh, một sinh viên trẻ hiện đang sống tại Việt Nam trong bài “Đâu là sự thật” đã viết: “Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”,”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “giải phóng ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v… Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước . Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường”.
.
Chính Lê Duẩn, nguyên Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói: “Ta đánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc” và “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại. Vì thế, sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, năm 1976 Lê Duẫn đã ngang nhiên áp đặt Chủ Nghĩa Cộng Sản lên đầu toàn dân VN, đổi tên đảng Lao Động (vì thấy không còn cần phải lừa bịp dân nữa) thành đảng Cộng Sản Việt Nam. Lê Duẩn nói “Ta đã thành công trong việc cắm lá cờ Mác-Lê trên toàn cõi Việt Nam“.
 .
Mới đây, vào ngày 20/9/2017, ông Nguyễn Trung, cựu Đại Sứ Việt Cộng tại Thái Lan và Đức cùng một số đảng viên Cộng Sản đã viết một kiến nghị dầy hơn 40 trang gửi Bộ Chính Trị yêu cầu khép lại quá khứ, đổi tên đảng, tên nước và từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê.
 .
Trên đây chỉ là điển hình mấy trường hợp, còn không biết bao nhiêu đảng viên đã thức tỉnh, đã từ bỏ đảng hoặc tỏ bầy bất đồng chính kiến với đảng Cộng Sản Việt Nam.
 .
Tóm lại, tinh thần chống Cộng của người dân trong nước có được như ngày hôm nay là kết qủa của những sinh hoạt chống Cộng của người Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại. Chính vì vậy chúng luôn luôn tìm cách xóa bỏ những sinh hoạt có tính cách chống Cộng của chúng ta như không chào quốc kỳ và quốc ca VNCH, đổi tên ngày Quốc Hận 30/4 thành Ngày Diễn Hành Tự Do, Ngày Hành Trình Tự Do, Ngày Việt Nam Cộng Hoà hay Ngày Cựu Chiến Binh, nhưng tất cả đều thất bại. Chúng chuyển sang chiêu bài Hoà Hợp Hoà Giải, nhưng cũng không xong. Nay chúng lại cho phát động phong trào KHÔNG CHỐNG CỘNG.
 .
Chúng ta là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản. Nếu chúng ta không chống Cộng thì chống cái gỉ? Chống cái ÁC hả ? Bọn Việt Cộng chì mong có thế. Bởi vì cái ác thì ở đâu mà chẳng có? Ngay xứ Mỹ này cũng thiếu gì cái ÁC?
 .
Chúng ta đừng thả mồi bắt bóng, đừng bỏ chống cái ác chính là Cộng Sản mà đi tìm những cái ác vớ vẩn như bạo hành phụ nữ, bạo hành trẻ em, bạo hành súc vật v.v…
Bọn Việt Cộng đang trong giai đoạn khủng hoảng. Chúng đang thanh toán nhau để giành quyền lực. Sự xụp đổ của chế độ Cộng Sản là điều chắc chắn sẽ xẩy ra, vấn đề chỉ là thời gian. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải chống cộng tích cực hơn, mạnh mẽ hơn, để cho đồng bào trong nước tin tưởng hơn mà lên tiếng chống bọn Việt Cộng bán nước hại dân mạnh mẽ hơn. Tiếc rằng, trong số người Việt tỵ nạn Cộng sản chúng ta đã có một số người, hay nói cho rõ hơn, một số trí thức mê sảng mà một đồng môn Chu Văn An, anh Bùi Bảo Trúc đã gọi là bọn chó đẻ, chỉ vì một chút lợi danh, không những đã không góp phần vào công việc giải trừ chế độ Cộng Sản Việt Nam lại đi làm tay sai cho bọn Việt Cộng đưa ra những chiêu bài hoà hợp hoà giải, xóa bỏ hận thù v.v…khiến bọn chúng vẫn còn sống dai dẳng cho tới ngày nay.
.
Lê Duy San
———–
.

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

‘Con bé biến chất’ Ái Vân giữa Sài Gòn hoa lệ (*)

Thứ Năm, ngày 05 tháng 5 năm 2016
 

‘Con bé biến chất’ Ái Vân giữa Sài Gòn hoa lệ (*)

Ái Vân
 
TNO – NXB Hội Nhà văn và First News vừa cho ra mắt cuốn tự truyện Để gió cuốn đi của Ái Vân – một trong những ca sĩ nhạc nhẹ hàng đầu VN nửa sau thế kỷ 20.
Cuốn sách không chỉ là chuyện đời tư của một nghệ sĩ nổi tiếng có cuộc sống đầy thăng trầm, thậm chí có lúc đắng cay, mà còn là chuyện mưu sinh và hoạt động nghệ thuật của người nghệ sĩ VN trong bối cảnh đặc biệt của đất nước và ở hải ngoại. Thanh Niên xin trích giới thiệu cùng độc giả.

Tháng 4.1975, khi đang học năm thứ 2 Nhạc viện Hà Nội, tôi được thầy Nguyễn Văn Thương nhắn lên phòng giám hiệu: “Bên đài truyền hình cần bổ sung xướng ngôn viên để vào tiếp quản Sài Gòn vì bên ấy thiếu người quá. Ông Tố Hữu đề nghị chọn Ái Vân”.
Sáng sớm 29.4.1975, chiếc xe “pa” chuyển bánh từ trụ sở Ban Tin tức Đài tiếng nói VN trực chỉ Sài Gòn.
Một Sài Gòn khác
Ở Hà Nội nhỏ bé xinh xinh, vào Sài Gòn thấy ngợp. Ra chợ Bến Thành thấy người dân khác hẳn. Lúc đó người Sài Gòn không dám ăn diện như trước, nhưng vẫn thấy sự khá giả trên những bộ đồ họ mặc. Họ đón nhận mình với thái độ vui mừng một cách gượng gạo, có phần nghi ngại. Dân Sài Gòn thấy ai từ bắc vào đều gọi là bộ đội. “Bộ đội” truyền hình ca nhạc cô nào cũng coi được, mấy bà mấy cô cứ xúm lại mấy chị em xuýt xoa: “Bộ đội mà sao da trắng bóc hà?”. Nhiều người còn cầm tay tôi ngạc nhiên bảo: “Ủa, nghe nói bộ đội rút móng tay người ta. Cô này bộ đội nè, sao móng tay còn nguyên nè, ngộ quá há”.
Tôi mua vài thứ lặt vặt, đưa tiền ngoài bắc, cô bán hàng tính ra 1 đồng ăn 1.000 đồng tiền Sài Gòn, cả chợ ồ lên nói: “Trời, tiền ngoài bắc còn giá trị hơn tiền dollar à”. Cô bán hàng nói: “Em chờ chút để qua đổi tiền thối nha”. Tôi cãi: “Không, tiền em không thối đâu ạ”.
Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc.
Theo địa chỉ ba cho từ ngoài bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba.
Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”. Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần”.
Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em”. Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ tướng.
“Thay lốt”
Dần dần tôi gặp rất nhiều văn nghệ sĩ ngoài bắc vào. Gặp nhau ở Sài Gòn vui hơn tết. Mới biết Bộ Văn hóa phát lệnh “Tổng tiến công” bằng 7 đoàn văn hóa nghệ thuật tiến vào nam trên một chiếc tàu thủy.
Những ngày đầu ở Sài Gòn tôi có dịp được gặp nghệ sĩ Kim Cương và ông xã. Ở chị Kim Cương toát lên vẻ duyên dáng, tự tin, sang trọng mà không kiêu kỳ, ngược lại rất ân cần và điềm đạm. Vợ chồng chị Kim Cương cũng cho tôi đi gặp vợ chồng anh chị Lý Quí Chung. Chị vợ anh Lý Quí Chung cứ nhìn tôi, cái nhìn là lạ. Về nhà chị Chi, con gái cô Cả, tôi vui chuyện kể lại. Chị Chi cười, nói: “Cô xem cô mặc bộ đồ kỳ vậy, cái quần chó táp 7 ngày không tới ai mà không lạ”.
“Để tui thay lốt cho cô”, chị Chi nói và kéo tôi ra chợ Bến Thành chọn vải rồi về tiệm, đo người xong, chị bảo sẽ may gấp, hẹn hai, ba ngày sau sẽ đến lấy.
Thử quần áo, vừa in. Một bộ áo chẽn trắng sọc xanh da trời nhạt, quần ống loe vải gin xanh nội hóa, bộ kia cũng kiểu như vậy nhưng tone màu hồng sắc tím. Nhìn trong gương như thấy một người nào khác, văn minh, cao ráo và “lên chân kính” hẳn. Tiện thể, chị Chi lấy chiếc kính râm to bản đang để trên bàn bảo tôi mang vào luôn. Chị Chi hãnh diện nhìn “tác phẩm” của chị, bảo: “Đẹp lắm, bây giờ thì đúng là con gái Sài Gòn rồi”. Nói xong chị gói luôn bộ quần áo ka ki tôi mặc bỏ vào cái túi.
Tôi mặc bộ đồ mới ra đường, rất khoái chí. Về đến nơi vừa đúng lúc đang họp đoàn, cô Bích Hường đang phát biểu cái gì vẻ căng lắm. Vừa thấy tôi hớn hở bước vào, cô nói: “Có những đồng chí vừa mới vào Sài Gòn được mấy bữa mà đã biến chất, thay đổi từ đầu đến chân, chưa gì đã áo chẽn, quần loe, mang kính râm to bản, thí dụ như đồng chí Ái Vân”. Ối giời, con bé choáng váng rụng rời, ngay sau đó vội vàng giấu ngay “tang vật”.
Buồn cười là những người phê phán “đồng chí Ái Vân” mấy tuần sau chính họ cũng kính râm to bản, một số quần loe, chân đi guốc “gộc”, một số thì áo dài thướt tha, phóng xe Honda chạy vù vù khắp Sài Gòn. Còn “đồng chí biến chất” này suốt mấy tháng còn lại trong Sài Gòn đành diện bộ đồ “chó táp 7 ngày không tới”.
 
(*) Tựa do tòa soạn đặt
//
saigon-01-danlambao

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Tiếp thu xong Hà Nội (1955), “Bác” chuyển qua nhẩy “Son..Ðố..Mì..”!

Posted on | Để lại bình luận | Sửa

Mèo “Son..Đố..Mì..!”



Tình cờ tôi – CTHÐ –  tìm được bức ảnh xưa thật là xưa: ảnh năm 1955 khi Chủ Tịt Hồ Chí Minh về Hà Nội, “Bác” nhẩy điệu nhẩy do bọn Tầu Cộng đặt ra, tên là “Nhẩy Hoà Bình.” Một tên khác của điệu nhẩy cóc, nhẩy nhái này là nhẩy “Son..Ðố..Mì..” Mấy em 15, 16 mặc váy, sơ-mi, đi vớ cao, nhẩy “Son..Ðố..Mì..” với Bác là con gái những nhà giầu Hà Nội tưởng bở ở lại với “Bác”. Ðiệu Nhẩy Khỉ Gió này về Hà Nội được nửa năm là chết ngay, không ai nhẩy nữa. Dù ưa hay ghét “Bác Hồ”, trông mặt “Bác” với mắt nhìn và miệng cười ai cũng thấy là “Ðểu” quá là đểu.
Chỉ những người Việt năm nay tuổi đời Tám Bó mới biết chuyện dân Hà Nội nhẩy “Son..Ðố..Mì..” 50 năm xưa.
o O o

Ðể chia tay với Năm Hổ.
Ðể chào đón Năm Mèo.
Mời quí vị đọc bản tin đặc biệt cuối năm về Chủ Tịt  Hồ Chí Minh, lãnh tụ của bọn đảng viên Ðảng Cộng sản. Năm Mèo trở lại, nhiều người Việt không vui vì bị ám ảnh bởi Năm Mèo 1975. Với nhiều người Việt, Hồ Chí Minh là  một quái nhân thuộc loại Mèo Già hoá Cáo.
Bản tin về Hồ Chí Minh Tháng 12, 2010  được phát trên Internet, ghi là tin của “http://vietnamnet.vn/thegioi/2007/08/736018/)”
Tin như sau:
Việt Nam phản đối Thuỵ Ðiển về biếm hoạ Hồ Chí Minh.
Việt Nam cho biết đã triệu hồi một nhà ngoại giao Thuỵ Ðiển hôm 30/8 để phản đối một bức biếm hoạ “báng bổ” Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bức tranh được đăng trên tờ báo Nerikes Allehanda ngày 18/8, mô tả đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên mình của một con chó. Tác giả là hoạ sĩ người Thuỵ Ðiển Lars Vilks.
Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố.
“Việt Nam kịch liệt lên án việc xuất bản bức chân dung báng bổ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tờ báo này. Việc làm đó đã xúc phạm những người cộng sản. Ðáng tiếc là xu hướng của một số người châu Âu trộn lẫn tự do ngôn luận với việc cố ý xúc phạm 3 triệu người cộng sản tại Việt Nam đang gia tăng.”
Nhà ngoại giao Thuỵ Ðiển này cho biết chính phủ ông “hoàn toàn chia sẻ quan điểm của cộng đồng cộng sản và coi việc đăng tải bức tranh này là đáng tiếc”.
Trung Quốc cũng đã phản đối việc đăng tải bức biếm hoạ nói trên. Vụ việc diễn ra hai năm sau khi một số nước phản đối việc đăng 12 biếm hoạ về Chủ tịch Hồ Chí Minh trên tờ báo lớn nhất của Ðan Mạch.
Việt Nam cho biết sẽ tư vấn với các nước cộng sản khác là Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba và Lào, để quyết định đường lối chống lại việc đăng tải những bức biếm hoạ khiêu khích như vậy trong tương lai.
Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh đã ra tuyên bố lên án việc đăng tải bức biếm hoạ báng bổ này và kêu gọi chính phủ Thuỵ Ðiển trừng phạt hoạ sĩ và tờ báo, cũng như đòi chính phủ Thụy Ðiển phải xin lỗi.
Ông NÐ Mạnh nói:
“Ðây là một hành động vô trách nhiệm và hèn hạ với những ý định khiêu khích, nhân danh cái gọi là tự do ngôn luận, nhằm xúc phạm những người cộng sản Việt Nam.”
Hết bản tin.
Mới đọc bản tin, tôi – CTHÐ – tưởng đây là bản Tin Thật. Tôi nhớ lại vài chuyện tôi nghe được ở Sài Gòn những năm 1970, 1971, 1972.. Trong thời gian ấy có nhiều người ba nước Bắc Âu – Na Uy, Thụy Ðiển, Ðan Mạch – kịch liệt phản đối việc quân đội Mỹ tham chiến ngăn chặn bọn Bắc Cộng xâm lăng Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, những người này ra mặt ủng hộ bọn Bắc Cộng. Báo, đài phát thanh Hà Nội loan tin nhiều người Bắc Âu nói:
“Uớc gì sau một đêm ngủ dậy thấy mình là người Việt Nam.”
Ðấy là chuyện mấy người Bắc Âu chống Mỹ, bênh Bắc Cộng những năm 1970. Ðể rồi bây giờ, 40 năm sau, cũng những người dân Bắc Âu vẽ đầu Hồ Chí Minh lên thân một con chó đăng lên báo của họ.
Nhưng.. tôi chỉ bị lừa trong 5 phút. Bản tin trên là bản Tin Giả, bản tin do một người Việt Nam nghĩ ra nhân vụ một hoạ sĩ Thụy Ðiển vẽ đầu Giáo Chủ Mohamed lên thân con chó. Vụ này xẩy ra năm 2008.
Tôi phục ông Việt Nam nào đã làm ra bản Tin Giả Ðầu Hồ Chí Minh trên cổ Chó làm tôi tưởng đó là Tin Thật. Dù chỉ tưởng là Tin Thật trong 5 phút cũng là tưởng thật, tôi phục tài bịa của tác giả.
Thưa ông tác giả bản tin Hồ Chí Minh Ðầu Chó. Xin ông cho tôi gửi lời bái phục. Chúc ông Năm Mèo dzui như năm ông 20 tuổi, ông hun cô Mèo thứ nhất trong đời ông.
o O o
Tôi có người bạn văn tên là Phạm Huy Khuê bị kẹt lại ở Hà Nội sau năm 1954. Hai mươi năm sau Khuê gặp lại tôi ở Sài Gòn. Anh từng đi tù nhiều năm trong 20 năm bị kẹt. Khuê nói cho tôi nghe nhiều chuyện linh tinh của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghiã, anh dặn tôi:
– Với bọn cộng sản thì tội nào cũng có thể tha thứ được, chỉ có tội xúc phạm Bác Hồ của chúng nó là chúng nó không tha. Mày nhớ đấy, đừng bao giờ đụng đến Ông Hồ!
Những ngày u ám ghê khiếp liên tiếp theo nhau đến với tôi.. Sống quẩn quanh ngày tháng nó nặng triền triền… Ngày qua ngày muộn, đêm phiền theo đêm.. Những năm 1976, 1977…, tôi buồn quá đỗi, buồn đến không thể nào chịu được, buồn đến không sao có thể sống được.
Tôi đâu có muốn làm thơ. Tôi biết sống trong gông cùm của cộng sản mà làm thơ sầu buồn, oán hận, cộng sản ác ôn nó vớ được là mình không chết cũng khốn khổ khốn nạn mí nó. Sống với nó mình chỉ than buồn thôi nó đã đem mình đi nó cất kỹ năm, bẩy năm. Nhưng vì sầu buồn quá đỗi tâm trí tôi cứ tự động làm thơ, trái tim tôi làm thơ mà phớt lờ khối óc.
Tôi làm mấy bài Vịnh 12 Con Giáp:

Gà què ăn quẩn cối xay
Ðùi teo, cật lép lại hay động tình.
Ðêm không chịu ngủ một mình,
Ngày thì gạ mái cứ inh cả nhà.
Cà-ri ta đến tiệm Chà,
Mua ngay mấy gói cho gà đi đoong!

HEO
Nhiều loài ở bẩn hơn tôi,
Sao tôi chịu tiếng để đời: như heo!
Chủ về chẳng kịp đi theo,
Não nùng cám mốc gặp bèo phôi pha.
Chán chường vì nỗi người ta,
Lợn lành đem chữa hoá ra lợn què!

NGỰA
Ðường dài hay sức ngựa phi,
Một thời tuyệt-phích, dzô-kề đã xa.
Ngựa già cho đến ba-toa,
Ngựa non cám mốc, roi da đã đời!

MÈO
Mèo già đuôi lại dài đuôi,
Ðã không bắt chuột lại lười, ngủ trưa.
Lưỡi dài chỉ giỏi liếm bùa,
Bao giờ hóa cáo cho ra Ba Ðình.

Ta có câu “dán bùa l.. mèo” để gọi những việc làm qua loa, qua quít, làm cho có làm, làm được ít ngày là hỏng ngay, như việc dán lá bùa vào l.. em mèo cái, em này liếm một cái là lá bùa rơi ra liền một khi. Ta lại có câu “mèo già hóa cáo.” Với mấy câu vịnh Mèo tôi ngầm nhắc đến Già Hồ, nhiều người gọi Già Hồ là Cáo Hồ. Con mèo trong bài Thơ vịnh 12 Con Giáp của tôi bao giờ hoá cáo sẽ được tôi cho ra Ba Ðình, nơi có lăng Cáo Hồ, để nằm với Cáo Hồ.
Bọn Công An Thành Hồ đến nhà bắt tôi vớ được tập Thơ của tôi trong có ghi mấy bài Vịnh 12 Con Giáp. Quan trọng với tôi nhất là bài vịnh Mèo Lưỡi Dzài.
Những đêm dài nằm trằn trọc trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, nhớ đến bài Mèo Già, và nhớ lời Phạm Huy Khu căn dặn: “Xúc phạm Bác Hồ của chúng nó là chúng nó không tha..!
Tôi ân hận ơi là ân hận.
Trong đời tôi có làm vài việc để tôi phải ân hận, nhưng không có việc nào làm tôi sợ bằng việc tôi làm bài Thơ đặt loài Mèo Lưỡi Dài Liếm Bùa ngang hàng với “Bác Hồ muôn kính, ngàn yêu” của bọn Bắc Cộng.
Tôi ân hận và tôi sợ. Sợ quá là sợ. Ðêm không ngủ được, nằm như xác chết trên sàn xà-lim, tôi nghĩ:
« Nó tó được bài thơ mình chửi Bác chúng nó, chúng nó sẽ không tha mình. Chúng nó sẽ cho mình đi tù mút mùa không có ngày về..! Mình.. chắc chít quá..! »
Nhưng qua hai lần tù đày — 8 niên — tôi không chết.
Nhiều người tù bị đày ải ác liệt, ghê khiếp gấp không phải trăm lần mà gấp ngàn lần tôi, nhưng những người ấy vẫn không chết.
Hôm nay, một ngày cuối năm ở Xứ Người, trong cảnh buồn tôi có niềm hứng thú là :
«  Tôi  làm Thơ tả « Bác Hồ » của bọn Bắc Cộng như loài mèo có cái lưỡi dzài chỉ giỏi liếm bùa, tôi vẫn sống để hôm nay tôi viết những dòng chữ này. »
Tôi thả hồn trở về những cư xá đèn vàng của Sài Gòn thương yêu những tối gần Tết năm xưa. Những cư xá như Cư Xá Tự Do, cư xá ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền. Cư xá trong có căn nhà nhỏ của vợ chồng tôi, căn nhà vợ chồng tôi đã sống quanh quẩn với nhau trong 20 năm, những năm u tối mà ngạt ngào thương yêu, hạnh phúc, căn nhà bọn Công An Thành Hồ đem xe bông đến cửa đón tôi đi hai lần, căn nhà vợ tôi đã phải sống 8 năm không có tôi, căn nhà tôi từ đó xách túi đi tù hai lần, căn nhà hai lần tôi từ Ngục Tù Cộng Sản trở về.
Nhớ quá đi mất !
Tôi nhớ tôi còn nợ quí vị bài viết về Cư Xá Tự Do.
Tôi sẽ viết về Cư Xá Tự Do và Người Cư Xá Tự Do trong những ngày Xuân Mèo.
Xin hưá chắc như bắp rang !
—————————————————————————
* CTHÐ hội viên chân chính-chuyên chính-thâm niên của Hội Hưá Lèo Quốc Tế!

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Văn Hóa Đéo! - Tác giả Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Văn Hóa 'Đéo'

 .
            Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố Văn Hóa  thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngòai ngõ, tôi hỏi:
–   Này  các cháu có biết nhà ông xã trưởng khu phố Văn Hóa ở đâu không?
Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn:
–   Biết, nhưng đéo chỉ!
Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ Văn Hóa, gặp một thanh niên hỏi:
–   Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố Văn Hóa này ở chỗ nào không anh?
Gã trẻ tuổi này chẳng thèm dòm ngó gì đến tôi, trả lời cộc lốc:
–   Đéo biết!
Khi gặp ông trưởng khu phố Văn Hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở:
–   Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây đã không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với người khách lạ thô bỉ đến thế hả anh?! Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố Văn Hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:
–   Có dậy đấy chứ, nhưng chúng nó đéo nghe.
Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về vừa tới đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một câu chuyện như sau:
–   Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ vv…. Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ “dũng cảm” là gì. Nó đứng suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:
–   Nghĩa là … là … đéo sợ.
Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, liền đem chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa 2 chữ “dũng cảm” là “đéo sợ” cho ông nghe . Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông ngắm nghía nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lý, chậm rãi đáp:
–  Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng đéo sai!!!
Đấy, bây giờ luân lý, đạo đức của con người dưới chế độ này như thế đấy. Rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi! Làm sao tránh được? …Đất nước ta thế này thì đéo khá!
 .
            Bần bút xin mượn câu kết của câu chuyện làm lời kết cho bài viết.
.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất